NGƯỜI HUẾ CÚNG 41 LẦN MỘT NĂM VÀ HƠN THẾ NỮA

“Người Huế cúng bao nhiêu lần trong một năm?”, đó là thắc mắc từ nhiều người bạn của JiH khi đến Huế, đặc biệt là vào những dịp lễ lớn. Từ lâu với người Huế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay các lễ cúng trong năm không chỉ để tưởng nhớ ông bà tổ tiên, mà còn là sợi dây kết nối với cộng đồng và giữ gìn phong tục, vẻ đẹp truyền thống. Chỉ cần theo dõi lịch âm trong một năm, ta dễ dàng thấy ở Huế dày đặc những ngày cúng, mà ở đó mỗi ngày lại mang một tầng ý nghĩa riêng

Nhân dịp Tết Trung nguyên (15/7), cũng là lễ Vu Lan thắng hội trong Phật giáo, đồng thời còn là ngày Xá tội vong nhân trong dân gian, chúng mình xin thử tổng kết xem một năm người Huế có tất cả bao nhiêu ngày cúng. 

Cùng theo chân JiH để khám phá nhé!

Nguồn tài liệu tham khảo: Kiểu Huế – Ts. Trần Đức Anh Sơn, Tín ngưỡng dân gian Huế – NNC. Trần Đại Vinh  

 

Đầu tiên, phải kể đến tháng Giêng, cũng chính là tháng mở đầu của một năm mới. Chỉ cần đếm sơ qua, người Huế đã có tới 9 lễ cúng chính trong tháng này. 

  • Sáng mồng 1 – Lễ cúng Nguyên đán: người Huế thường làm mâm cúng trên bàn thờ tổ tiên, lễ vật đơn giản như trầm trà, mứt bánh… nhưng tinh khiết và trang trọng. Sau đó người Huế đi chùa lễ Phật, viếng mộ tổ tiên, thăm nhà thờ họ…
  • Mồng 2 – 3: Lễ cúng Tết nhà. 
  • Mồng 3 – 4: Lễ cúng đưa ông bà, tiễn tổ tiên sau những ngày Tết sum vầy.
  • Mồng 6 – 10: Lễ cúng xóm – thổ thần đất đai, cầu bình an và thuận hòa cho cộng đồng.
  • Mồng 9: 
  • Lễ cúng Tiên Sư (ngày vía Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn gọi là ngày Tiên Sư giáng hạ) – Đây là dịp tôn vinh tổ tiên, các bậc sư phụ và những người đã có công truyền dạy tri thức cho con cháu. 

+ Lễ cúng Trang Bà (Thờ bổn mạng dành riêng cho người con gái trưởng thành đến phụ nữ dưới 60 tuổi) – Đó chính là việc thờ tự và cúng Tây cung vương mẫu, hay còn gọi là Đoài Cung thánh mẫu. 

  • Mồng 10: Cúng vía Thần Tài – Đây là dịp tạ ơn vị thần đã che chở trong năm cũ, đồng thời cầu xin nhận lấy vía tốt của Ngài để khởi đầu một năm làm ăn hanh thông, sung túc.
  • Mồng 14-15: Dâng sao giải hạn. Mục đích của lễ cúng bổn mạng là cầu cho thân mạng của người đàn ông hoặc đàn bà được vẹn toàn, thoát khỏi những “tai ương” và rủi ro trong cuộc sống thường nhật, ước nguyện gặp điều tốt lành trong năm. Vào dịp này người Huế hay cúng giấy có hình người, như là hình nhân thế mạng.
  • Rằm tháng Giêng (15): Tết Nguyên tiêu –  ngày rằm lớn đầu tiên trong năm.

Ngày mồng 1 & 15 hằng tháng (24 lần trong năm): Đây là hai kỳ Sóc (mồng Một) và Vọng (Rằm) gắn với chu kỳ trăng non và trăng tròn. Trong quan niệm Á Đông, đây là thời khắc thiêng liêng, thích hợp để con người hướng về tổ tiên, cầu nguyện cho bình an, thuận hòa.

15/4: Lễ Phật đản, một trong những ngày lễ trọng của Phật giáo, được người Huế coi trọng. 

5/5: Tết Đoan Ngọ. Đây là một lễ thức nông nghiệp cổ truyền, đồng thời gắn với nghi thức cúng cơm mới sau vụ lúa Đông Xuân – vụ mùa chính của vùng Huế. Sau khi thu hoạch, nếp mới vừa khén, vịt nuôi đã béo, kê đậu vừa hái… con cháu trong nhà cùng nhau chuẩn bị mâm cúng tươm tất. Lễ vừa để tỏ lòng kính tổ tiên, vừa là dịp gia đình đoàn tụ, hưởng lộc mùa màng.

23 – 30/5: Lễ cúng Thất thủ Kinh đô, tưởng niệm sự kiện đau thương năm 1885, khi triều đình nhà Nguyễn thất thủ trước quân Pháp. Đây không chỉ là lễ cúng gia đình mà còn có ý nghĩa cộng đồng, gắn với ký ức lịch sử của cả đất cố đô.

15/7: Lễ Tết Trung nguyên, đây là Vu Lan thắng hội của Phật giáo, còn gọi là ngày Xá tội vong nhân hay Địa quan giải ách. Từ ngày 14, người Huế đã bắt đầu tụng kinh, niệm Phật; đến đúng rằm, vào buổi trưa, lễ cúng chính thức được dâng lên với mâm cỗ chay tinh khiết. Không chỉ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ bảy đời, mà còn có lễ thí thực cô hồn, nguyện cầu chư Phật và Bồ Tát tiếp độ vong linh siêu thoát, vãng sanh về cõi tịnh độ.

Trong năm: 

  • Tháng 6-9: lễ Thu tế của các làng 
  • Chạp họ, chạp phái (tuỳ dòng họ) 
  • Kỵ, giỗ tổ tiên, người thân 

Như kể trên vẫn chưa đủ, trong những kỳ hạn dài hơn: 5 năm, 10 hay 12 năm,… tuỳ gia tộc và hoàn cảnh riêng, mỗi gia tộc Huế còn dâng cúng những ngày lễ đặc biệt, gốc gác từ Đạo giáo, hay Phật giáo: lễ trai tiếu bạt độ, lễ cúng nam thương, lễ trai đàn chẩn tế,…

Cuối năm: 6 lễ cúng lớn 

  • Tháng 12: Chạp mả. 

Sau khi quét dọn bàn thờ, thay cát mới cho bát nhang, đánh bóng bộ tam – ngũ sự, gia đình chuẩn bị hương hoa đi thăm viếng mộ phần của những người thân đã khuất. Đây là nghi thức mở đầu cho mùa Tết.

  • Sáng sớm ngày 23/12: Cúng ông Táo. Người Huế chỉ làm lễ cúng ông Táo, không cúng ông Công như người Bắc.  
  • Từ ngày 25/12: Cúng tế tổ nghề. Lễ cúng tổ nghề diễn ra ở phường hội nghề nghiệp, mỗi phường nghề có một ngày cúng tổ riêng. Sau lễ cúng này, đa phần các phường nghề tạm ngưng hoạt động để đón Tết. 
  • Cuối tháng 12: 
  • Tất niên xóm. Sau một năm tất bật mưu sinh, hàng xóm, láng giềng quây quần bên nhau, cùng nâng chén rượu tiễn năm cũ, đón năm mới, gắn kết tình làng nghĩa xóm.
  • Lễ cúng tất niên ở tư gia diễn ra muộn hơn, thường là vào chiều 30 Tết. Sau lễ cúng trên bàn thờ mời tổ tiên về “ăn Tết”, các thành viên trong gia đình hội ngộ với nhau bên mâm cơm chiều cuối năm. Mỹ tục này được người Huế duy trì từ bao đời nay nên dù đi làm ăn xa hay gần, thì đến chiều 30 Tết ai ai cũng tìm cách đoàn tụ với gia đình trong “bữa cơm đặc biệt này”. 
  • Ngày cuối cùng của tháng 12: Cúng giao thừa. Lễ cúng này được bày biện ở ngoài sân lẫn trong nhà. Mâm cúng ở ngoài trời là để đưa đón các vị Hành khiển; còn lễ cúng trong nhà diễn ra vào đúng thời điểm chuyển giao sang năm mới là để cầu xin tổ tiên “phù hộ độ trì” cho con cháu trong gia tộc một năm mới may mắn, an khang.

Vào mỗi dịp rằm hay lễ lớn, sáng sớm ở các khu chợ Huế, từ chợ làng quê đến những khu chợ lớn đã nhộn nhịp những nải chuối xanh, những bó hoa cúc vàng tươi để phục vụ cho nhu cầu chuẩn bị lễ cúng của người dân.

Như vậy nhìn chung, số lần cúng 1 năm của người Huế có thể dao động từ 35 – 50 lần tuỳ mỗi nhà. 

Trong nhịp sống Huế, chính sự lặp lại của những mâm cúng quanh năm đã nuôi dưỡng nếp sống chậm rãi, trầm mặc mà sâu lắng. Có thể nói, khói hương trên bàn thờ chính là một phần không thể tách rời của đời sống tinh thần người Huế, vừa là sự tri ân tổ tiên, vừa là cách gìn giữ bản sắc văn hoá của vùng đất cố đô.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *